Ngữ pháp văn bản và việc xây dựng bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn ở lớp 4,5

Tháng Một 23, 2019 2:02 chiều
  1. DẪN NHẬP

 1. M.A.K Halliday (1960) viết: “Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ, không phải là từ hay câu, mà là văn bản”. [2, tr9]. Các nhà khoa học khác cũng cho rằng, con người không thể dùng các đơn vị ngôn ngữ như âm vị, hình vị, từ và thậm chí câu để giao tiếp, trao đổi thông tin với nhau. Muốn giao tiếp, con người cần sử dụng ngôn ngữ dưới dạng một chuỗi câu có liên quan với nhau. Chuỗi câu đó chính là văn bản. Trong những thập niên 50, 60 của thế kỉ XX, ngữ pháp văn bản ra đời đã chứng minh rằng, văn bản là đơn vị giao tiếp hoàn chỉnh và có tầm quan trọng trong đời sống xã hội loài người.

Khi nghiên cứu các đơn vị tạo thành văn bản, người ta không bắt đầu từ câu mà đề cập đến một đơn vị trung gian. Đơn vị trung gian đó nằm giữa câu và văn bản gọi là chỉnh thể trên câu hay đoạn văn. Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản.

  1. NỘI DUNG

2.1. Khái niệm đoạn văn

Khi nghiên cứu ngữ pháp văn bản, các nhà nghiên cứu cho rằng từ câu đến văn bản có một đơn vị trung gian. Pecôpxki (1914) gọi đó là “đoạn văn”, N.S Paxpelốp (1946) gọi là “chỉnh thể cú pháp phức hợp”, Bôstơ (1949) gọi đó là “khối liên hiệp câu”…Nhưng trong đó có hai tên gọi được bàn đến nhiều nhất: Đoạn vănChỉnh thể trên câu (CTC). Đoạn văn có thể hoàn chỉnh về mặt nội dung mà cũng cũng có thể không hoàn chỉnh về mặt nội dung. Nhưng CTC thì phải hoàn chỉnh, nó biểu thị một tiểu chủ đề trong văn bản. Đoạn văn có hình thức rõ ràng, CTC thường có hình thức, ranh giới khá mờ nhạt vì ranh giới giữa nội dung đoạn này với nội dung đoạn khác lắm khi không xác định rõ ràng, dứt khoát. Về kích thước, có mấy khả năng xẩy ra:

+ CTC lớn hơn một đoạn văn.

+ CTC bé hơn một đoạn văn.

+ CTC bằng một đoạn văn. [2, tr 115]

Khi CTC bằng một đoạn văn, đây chính là kiểu đoạn hoàn chỉnh về mặt nội dung, như một văn bản con. Đó cũng chính là một cách tiếp cận của Sách giáo khoa môn tiếng Việt ở Tiểu học.

Tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, để trở thành một đoạn văn cần các điều kiện sau:

Thứ nhất, có khả năng khu biệt: có hình thức nhất định với ranh giới rõ ràng.

Thứ hai, phải thống nhất giữa nội dung và hình thức, “sự phân chia trên dòng âm thanh phải tương ứng với sự phân chia trên dòng khái niệm”.

Thứ ba, đoạn văn là một đơn vị ngôn ngữ, nằm trong văn bản, tạo lập văn bản.

Vậy, đoạn văn là gì? Đây là một khái niệm vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất của các nhà nghiên cứu.

Có tác giả cho rằng, đoạn văn là tập hợp nhiều câu diễn tả tương đối trọn vẹn một ý và có mối quan hệ với nhau về ngôn ngữ và tư duy. Định nghĩa này chưa thật đầy đủ,  vì trong thực tế, có khi đoạn văn chỉ có một câu, cũng có khi đoạn văn chưa diễn tả ý trọn vẹn.

Có tác giả lại cho rằng, đoạn văn là một phần của văn bản nằm giữa hai chỗ xuống dòng.  Định nghĩa này cũng rất chung chung, chưa được định hình cụ thể.

Định nghĩa mà chúng tôi đề cao là của tác giả Phan Mậu Cảnh: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, được tách ra một cách hoàn chỉnh, rõ ràng về hình thức” [2, tr117].

Như vậy, đoạn văn có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn chỉnh về mặt nội dung. Khi hoàn chỉnh về nội dung, mỗi đoạn văn là một đoạn ý (đoạn nội dung). Khi không hoàn chỉnh về mặt nội dung, mỗi đoạn sẽ là một đoạn lời (đoạn diễn đạt). Về hình thức, đoạn văn luôn hoàn chỉnh. Ở tiểu học, tính hoàn chỉnh này được thể hiện rõ nhất bằng dấu hiệu: lùi đầu dòng, viết hoa, cuối đoạn có dấu kết đoạn, có thể nhận biết bằng mắt.Ví dụ:

Ngày xưa, ở làng kia, có hai mẹ con cô bé sống trong một túp lều. Họ phải làm lụng vất vả quanh năm mới đủ ăn.

Một hôm, người mẹ không may bị bệnh nặng. Cô bé ngày đêm chăm sóc mẹ nhưng bệnh mẹ mỗi ngày một nặng thêm. Có người bảo rằng ở vùng bên có ông thầy thuốc giỏi chữa được bệnh này. Cô bé nhờ bà con hàng xóm trông nom mẹ, ngay hôm ấy lên đường. (Theo Tiếng Việt 4, tập 1, tr54)

Cả hai đoạn văn trên gồm hai đoạn hoàn chỉnh về nội dung (đó là đoạn ý). Ở đầu mỗi đoạn được viết hoa và thụt vào phía trong một chữ.

Như vậy, ta có thể thấy đoạn văn như một văn bản con. Mỗi văn bản có các câu: câu mở đoạn, câu khai triển đoạn (còn gọi là câu thuyết đoạn), câu kết đoạn, câu chủ đề.

2.2. Khái niệm câu chủ đề

Câu chủ đề là câu mang nội dung thông tin chính, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ thành phần chủ ngữ, vị ngữ. Phần lớn câu chủ đề đứng ở đầu đoạn văn, ngoài ra, trong ít trường hợp, câu chủ đề có thể đứng giữa hoặc cuối đoạn văn. Ở chương trình Tập làm văn ở Tiểu học, khi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn, câu chủ đề được sử dụng khá nhiều.

2.3. Các loại đoạn văn

Có nhiều tiêu chí để phân loại đoạn văn. Có thể phân loại đoạn văn đoạn văn theo kết cấu, theo nội dung, theo câu chủ đề, theo chức năng. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích đoạn văn phân chia theo kết cấu nhằm đối chiếu với hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh Tiểu học. Theo kết cấu, có 6 kiểu đoạn văn:

1) Đoạn diễn dịch: Diễn dịch là phương pháp trình bày ý từ luận điểm suy ra các luận cứ.Đoạn diễn dịch là đoạn văn có câu mở đoạn làm mang ý tổng quát, các câu còn triển khai ý câu chủ đề. Trong đoạn diễn dịch, không có câu kết đoạn. Ví dụ:

Cà Mau là đất mưa giông. Vào tháng ba, tháng tư, sáng nắng chiều mưa. Đang nắng đó, mưa đổ ngay xuống đó. Mưa hối hả không kịp chạy vào nhà. Mưa rất phủ, một hồi rồi tạnh hẳn. Trong mưa thường nổi cơn giông. (Đất Cà Mau, 6, tr 89)

2) Đoạn quy nạp: Quy nạp là phương pháp trình bày ý từ các luận cứ rút ra những nhận định tổng quát, rút ra luận điểm.Đoạn quy nạp là đoạn văn có cấu trúc ngược lại đoạn diễn dịch, các câu triển khai ý cụ thể đứng trước, câu chủ đề đứng ở cuối đoạn văn.Ví dụ:

Căn nhà sàn chật ních người mặc quần áo như đi hội. Mấy cô gái vừa lùi vừa trải những tấm lông thú thẳng tắp từ đầu cầu thang tới cửa bếp giữa sàn. Bấy giờ, người già mới ra hiệu dẫn Y Hoa bước lên lối đi bằng lông thú mịn như nhung. Buôn Chư Lênh đã đón tiếp cô giáo đến mở trường bằng nghi thức trang trọng nhất dành cho khách quý. (Buôn Chư Lênh đón cô giáo, 8, tr144)

3) Đoạn song song (song hành): Song hành là cách lập luận trình bày ý giữa các câu ngang nhau, các câu đều là luận cứ. Luận điểm được rút ra từ việc tổng hợp các ý của luận cứ.Đoạn song song là đoạn văn không có câu chủ đề, các câu đều có tầm quan trọng, bình đẳng như nhau trong biểu đạt nội dung toàn đoạn.Trong đoạn song song, câu chủ đề mang tính hàm ngôn. Ví dụ:

Con chim gáy hiền lành, béo nục. Đôi mắt nâu trầm ngâm ngơ ngác nhìn xa. Cái bụng mịn mượt, cổ yếm quàng chiếc tạp dề công nhân đầy hạt cườm lấp lánh xanh biếc. (Theo Tô Hoài)

 4) Đoạn móc xích: Là đoạn văn nối tiếp nhau theo chuỗi xích, câu sau phát triển ý câu trước, nối tiếp nhau cho đến hết đoạn. Ví dụ:

Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất thì phải có kĩ thuật tiên tiến. Muốn sử dụng kĩ thuật thì phải có văn hóa. Vậy việc bổ túc văn hóa là cực kì cần thiết. (Hồ Chí Minh)

5) Đoạn tối giản: Là đoạn văn chỉ có một câu. Ví dụ:  

Thảo quả trên rừng Đản Khao đã vào mùa.

Gió tây lướt thướt bay qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm Chin San. Gió thơm. Cây cỏ thơm. Đất trời thơm. Người đi từ rừng thảo quả về, hương thơm đậm ủ ấp trong từng nếp áo, nếp khăn. (8, tr113)

6) Đoạn tổng phân hợp: Đoạn tổng  phân hợp là đoạn nghị luận có cách triển khai ý từ luận điểm suy ra các luận cứ, rồi từ các luận cứ khẳng định lại luận điểm. Qua mỗi bước vấn đề được nâng cao hơn. Đoạn tổng phân hợp là đoạn văn có câu chủ đề đứng ở đầu và cuối đoạn. Ví dụ:

Bạn Minh, lớp trưởng lớp em, là con ngoan trò giỏi. Minh phụ giúp bố mẹ nhiều việc nhà, nhưng luôn đi học đúng giờ, làm bài đầy đủ, chưa làm phiền ai điều gì. Cô chủ nhiệm lớp em thường bảo “Minh là một học sinh có lòng tự trọng”. Là học sinh giỏi nhất trường nhưng Minh không tự kiêu. Minh giúp đỡ các bạn học kém nhiệt tình và có kết quả, khiến những bạn hay mặc cảm, tự ti nhất cũng dần dần tự tin hơn vì học hành tiến bộ. Lớp 4A chúng em rất tự hào về Minh. (6, tr62)

2.4. Phân loại hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn trong chương trình Tập làm văn ở lớp 4, 5

 Qua thống kê, chúng tôi thấy rằng, hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong chương trình SGK môn TLV lớp 4-5 hiện nay chiếm tỉ lệ tương đối cao. Thống kê chi tiết, chúng tôi thấy toàn lớp 4 và 5 gồm có 56 bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn. Trong đó, lớp 4 gồm 28 bài, lớp 5 gồm 28 bài. (Xem phụ lục đính kèm). Mỗi bài tập được được viết theo một thể loại, riêng lớp 5, tuần 35, học sinh được chọn một trong hai thể loại: tả cảnh vật hoặc tả người. Trong bài viết này, để cho thuận tiện, chúng tôi tính vào phần tả cảnh.

Về thể loại, hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn trong chương trình TLV lớp 4, 5 gồm có 3 thể loại chính với các bài tập viết đoạn văn miêu tả (tả cây cối, tả đồ vật, tả người, tả cảnh, tả con vật); đoạn văn kể chuyện và đoạn văn hội thoại.

– Nội dung viết đoạn văn miêu tả gồm 45 bài. Cụ thể như sau:

+ Có 10 bài viết đoạn tả cây cối (trong đó lớp 4 có 8 bài, lớp 5 có 2 bài).

+ Có 9 bài viết đoạn tả đồ vật (trong đó lớp 4 có 7 bài, lớp 5 có 2 bài).

+ Có 9 bài viết đoạn tả người (đều ở lớp 5) 

+ Có 9 bài viết đoạn tả cảnh (đều ở lớp 5)   

+ Có 8 bài viết đoạn tả con vật (trong đó lớp 4 có 6 bài, lớp 5 có 2 bài).

– Nội dung viết đoạn văn hội thoại gồm có 3 bài (đều ở học kì II, lớp 5). Cả 3 bài tập đều dựa vào đoạn trích và gợi ý lời thoại.

– Nội dung viết đoạn văn kể chuyện gồm có 8 bài (lớp 4 có 7 bài, lớp 5 có 1 bài). Trong 8 bài tập đó, có 6 bài dựa vào cốt truyện đã đọc, đã học hay đoạn viết dở. Có 2 bài tập yêu cầu chọn một đoạn trong bài tập làm văn của mình để viết lại cho hay hơn.

Từ thống kê trên, chúng tôi thấy rằng, nội dung rèn luyện viết đoạn văn được phân bố ở khối 4 và 5 tương đương về số lượng, với tỉ lệ 50: 50, đồng đều về thể loại. Tuy nhiên thời lượng các thể loại ở mỗi lớp lại khác nhau. Ở lớp 4 chỉ tập trung vào luyện kĩ năng viết các đoạn văn kể chuyện, tả cây cối, tả đồ vật và tả con vật, trong khi đó nội dung này ở lớp 5 chỉ có 1 đến 2 bài tập. Ở lớp 5 lại tập trung vào luyện kĩ năng viết các đoạn văn tả người và tả cảnh, có 3 bài viết tiếp đoạn hội thoại.

Nội dung rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong chương trình TLV lớp 4- 5 rất phong phú và đa dạng, tương ứng với 3 dạng bài tập:   

+ Bài tập viết đoạn mở bài trong văn miêu tả và kể chuyện.

+ Bài tập viết đoạn thân bài trong văn miêu tả và kể chuyện.

+ Bài tập viết đoạn kết bài trong văn miêu tả và kể chuyện.

Bài tập viết đoạn mở bài đã chú ý tới việc sản sinh văn bản trọn vẹn. Bài tập rèn luyện viết đoạn văn trong môn TLV lớp 4, 5 đều thống nhất ở hai cách mở bài là mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Hai cách mở bài này đã ứng dụng việc xây dựng đoạn văn theo kết cấu diễn dịch (cách mở bài gián tiếp) và đoạn tối giản (cách mở bài trực tiếp). Bài tập viết đoạn mở bài thường có các câu lệnh cho các em biết đoạn văn cần viết là mở bài.

Ví dụ: Viết một đoạn mở bài cho bài văn miêu tả bàn học của em:

  • Theo cách mở bài trực tiếp.
  • Theo cách mở bài gián tiếp. (7, tr10)

Bài tập viết đoạn thân bài, SGK yêu cầu viết đoạn với câu mở đề cho sẵn hoặc viết tiếp để hoàn chỉnh đoạn văn trong đó đã có câu mở đoạn. Như vậy, đoạn thân bài thường được viết theo kết cấu diễn dịch, quy nạp, song song, móc xích hoặc tổng phân hợp. Bài tập viết đoạn thân bài thường có yêu cầu cụ thể hoặc có khi chỉ ngầm định cho học sinh.

Ví dụ: Hãy viết một đoạn văn tả đặc điểm bên trong chiếc cặp của em (6, tr173)

Bài tập trên chỉ ngầm định cho học sinh biết đây là đoạn thân bài.

Bài tập viết đoạn kết bài đều thống nhất ở hai cách kết là kết bài mở rộng và kết bài không mở rộng. Hai cách kết bài này đã ứng dụng việc xây dựng đoạn văn theo kết cấu quy nạp (cách kết bài mở rộng) và kết cấu tối giản (cách kết bài không mở rộng). Bài tập viết đoạn mở bài thường có nội dung cụ thể với các câu lệnh cho các em biết đoạn văn cần viết là kết bài.

Ví dụ: Viết một đoạn kết bài cho bài văn tả con vật em vừa làm trong tiết tập làm văn trước theo cách kết bài mở rộng. (7, tr142)

Tóm lại, dù phân chia theo tiêu chí nào thì nội dung rèn luyện viết đoạn văn ở Tiểu học được ứng dụng triệt để lí thuyết ngữ pháp văn bản.

III. KẾT LUẬN

Chương trình SGK đã lấy quan điểm giao tiếp làm căn cứ để xây dựng chương trình. Hệ thống bài tập đã ứng dụng sâu sắc lí thuyết của ngữ pháp văn bản. Các bài tập chủ yếu là miêu tả và kể chuyện, hướng tới việc sản sinh văn bản tương đối trọn vẹn, lấy đoạn văn làm trung tâm. Ở lớp 4 -5, việc phân chia văn bản thành đoạn văn được chú trọng. Học sinh được tìm hiểu thế nào là đoạn văn miêu tả và kể chuyện, kết cấu ba phần của một đoạn văn, cách xây dựng đoạn mở bài trực tiếp và gián tiếp, cách xây dựng đoạn kết bài đóng và mở. Đoạn mở bài thường là đoạn diễn dịch có câu chủ đề ở đầu. Đoạn kết bài thường là đoạn quy nạp có câu chủ đề ở cuối. Tuy nhiên, sách giáo khoa chưa chú ý tới việc xây dựng đoạn văn theo kết cấu.   

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Quang Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm, Ngữ pháp văn bản và việc dạy tập làm văn, NXB giáo dục, Hà Nội, 1985.
  2. Phan Mậu Cảnh, Ngôn ngữ học văn bản, Tủ sách Đại học Vinh, 2002.
  3. Chu Thị Hà Thanh (Chủ nhiệm đề tài), Ngữ pháp văn bản và việc dạy học Tập làm văn viết ở Tiểu học, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Vinh, 2007.
  4. Trần Ngọc Thêm, Ngữ pháp văn bản, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1996.
  5. O.I. Moskalskaja (Trần Ngọc Thêm dịch), Ngữ pháp văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1996.
  6. Tiếng Việt 4, Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.
  7. Tiếng Việt 4, Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.
  8. Tiếng Việt 5, Tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.
  9. Tiếng Việt 5, Tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010.

PHỤ LỤC

Nội dung dạy học đoạn văn trong chương trình Tập làm văn lớp 4, 5

Lớp Tuần Nội dung  viết đoạn văn Trang Ghi chú
4 5 Viết đoạn văn trong bài văn kể chuyện (viết tiếp phần còn thiếu) 54
6 Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện 64
7 Luyện tập xây dựng đoạn văn kể chuyện 72
12 Viết kết bài trong bài văn kể chuyện (theo kiểu mở rộng) 123
13 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại (trả bài kể chuyện) 130  
14 Viết đoạn mở bài, kết bài trong văn miêu tả đồ vật 145
17 Viết đoạn văn tả đồ vật (tả bao quát chiếc bút) 170
Viết đoạn văn miêu tả đặc điểm đồ vật (bên trong chiếc cặp) 173
18 Viết đoạn mở bài (theo kiểu gián tiếp) và kết bài (theo kiểu mở rộng) cho bài văn kể chuyện 174  
Viết đoạn mở bài (theo kiểu gián tiếp) và kết bài (theo kiểu mở rộng) cho bài văn miêu tả đồ vật 175
Viết đoạn mở bài (kiểu trực tiếp hoặc gián tiếp) và đoạn thân bài cho bài văn miêu tả đồ vật (tả đồ dùng học tập) 177
19 Luyện tập viết đoạn  mở bài (gián tiếp và trực tiếp) trong bài văn miêu tả đồ vật (cái bàn học) 10
Luyện tập viết đoạn kết bài (theo kiểu mở rộng) trong bài văn miêu tả đồ vật (cái thước kẻ, cái bàn học hoặc cái trống trường) 11
22 Viết đoạn văn miêu tả cây cối (lá, thân hoặc gốc cây) 42
23 Viết đoạn văn miêu tả cây cối (loài hoa hoặc quả) 51
24 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối 60
25 Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối 75
26 Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả cây cối 82
27 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại (trả bài tả cây cối) 94
28 Viết đoạn văn ngắn sử dụng 3 kiểu câu Ai làm gì?, Ai thế nào?, Ai là gì? (tả người) 98
Viết đoạn mở bài (theo kiểu gián tiếp) và thân bài cho bài văn miêu tả đồ vật hoặc cây cối. 100
31 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật (viết đoạn văn có chứa câu mở đoạn) 130
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật (một đoạn tả ngoại hình, một đoạn tả hoạt động con vật) 140
32 Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật đã tả ở tiết trước 142
34 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại (trả bài tả con vật) 159
35 Viết đoạn văn tả cây cối (dựa vào đoạn văn tả cây xương rồng) 163
Viết đoạn văn miêu tả hoạt động con vật (dựa vào đoạn văn tả chim bồ câu) 165
Viết đoạn văn  miêu tả ngoại hình con vật 168
5 2 Viết đoạn văn tả cảnh (buổi sáng hoặc trưa, chiều trong vườn cây, trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, trên nương rẫy) 22
3 Viết bổ sung cho đoạn văn, viết đoạn văn tả cảnh (dựa vào dàn ý bài tả cơn mưa). 34
4 Viết đoạn văn tả cảnh (tả ngôi trường) theo dàn ý cho trước 43
7 Viết đoạn văn tả cảnh (tả cảnh sông nước) 74
8 Viết đoạn văn tả cảnh (cảnh đẹp địa phương) 81
Viết đoạn mở bài (kiểu gián tiếp) và đoạn kết bài (kiểu mở rộng) trong văn tả cảnh (tả cảnh thiên nhiên địa phương) 84
11 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại (trả bài tả cảnh) 109
13 Viết đoạn văn tả ngoại hình nhân vật (người em thường gặp) 132
15 Viết đoạn văn tả hoạt động của nhân vật (người em yêu mến) 150
Viết đoạn văn tả hoạt động của nhân vật (bạn nhỏ hoặc em bé) 152
17 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại  (trả bài tả người) 172
19 Viết 2 đoạn văn mở bài theo hai cách đã biết (luyện tả người) 12
Viết 2 đoạn văn kết bài theo hai cách đã biết (luyện tả người) 14
21 Viết lại đoạn mở bài hoặc thân bài trong bài viết của mình (trả bài luyện tả người) 34
23 Viết lại đoạn mở bài hoặc thân bài khác đoạn trong bài viết của mình (trả bài kể chuyện) 55
24 Viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả hình dáng hoặc công dụng đồ vật (ôn tập tả đồ vật) 64  
25 Viết tếp đoạn đối thoại (dựa nội dung đoạn trích) 78
26 Viết tếp đoạn đối thoại (dựa nội dung đoạn trích) 85
Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại  (trả bài tả đồ vật) 87
27 Viết đoạn văn ngắn tả bộ phận cây cối (ôn tập tả cây cối) 97
28 Viết đoạn văn 5 câu tả ngoại hình nhân vật (cụ già) 102  
29 Viết tếp đoạn đối thoại (dựa nội dung đoạn trích) 113
Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại  (trả bài ôn tập tả cây cối) 116
30 Viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả hình dáng hoặc hoạt động con vật (ôn tập tả con vật) 123  
32 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại  (trả bài ôn tập tả con vật) 142
34 Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại  (trả bài ôn tập tả cảnh) 158
Chọn đoạn văn trong bài của mình, viết lại (trả bài ôn tập tả người) 161
35 Viết một đoạn văn khoảng 5 câu tả hoạt động nhân vật hoặc tả cảnh vật (hình ảnh gợi ra từ bài thơ) 166  

 

ThS. Nguyễn Bình Tài

                    Phòng Giáo dục và Đào tạo Quảng Trạch, Quảng Bình